Mở đường vốn dài hạn cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số

23/07/2026

Sáng nay (23/7), Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" nhằm tạo diễn đàn đối thoại chính sách, đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Hữu Thắng.

Hội thảo có sự tham dự của đại diện bộ, ban, ngành Trung ương cùng các chuyên gia kinh tế hàng đầu và đại diện các doanh nghiệp:
Về phía các bộ, ban, ngành Trung ương: Ông Nguyễn Hải Nam, Uỷ viên chuyên trách Uỷ ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước; ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước; ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán; ông Vũ Chí Dũng, Trưởng ban Pháp chế - Đối ngoại, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Về phía các chuyên gia, diễn giả: TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV & Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia; PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM (IFC-HCM); ông Nguyễn Văn Thân, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ; ông Nguyễn Quốc Hùng, nguyên Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng; TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển thương hiệu và cạnh tranh; TS. Phí Vĩnh Tường, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới; PGS-TS. Phạm Mạnh Hùng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng; luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI; TS. Bùi Thanh Minh Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV); ông Nguyễn Văn Phụng, Nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế; ...
Về phía lãnh đạo các doanh nghiệp: Ông Lê Minh Tài, Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán VPS; ông Lê Mạnh Linh – TGĐ Công ty Tài chính tổng hợp cổ phần Điện lực (EVNFinance); ông Nguyễn Hoàng Long, Phó Chủ tịch HĐQT CTCP Gelex Hạ tầng; ông Thiều Hữu Chung, Phó Chủ tịch thường trực HĐQT CTCP Chứng khoán Bảo Minh; ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán SHS; bà Nguyễn Ngọc Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán DNSE; ông Hoàng Việt Anh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần chứng khoán, LPBS; bà Cao Thị Lan Hương, Phó TGĐ Tập đoàn Taseco; ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp, Ngân hàng HDBank; bà Lâm Thuý Nga, Giám đốc Toàn quốc Khối khách hàng Doanh nghiệp, Ngân hàng HSBC Việt Nam; ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Khối Chiến lược và Đầu tư, Tập đoàn Hasco Holdings; ông Nguyễn Khắc Hải, Giám đốc Khối phụ trách Luật và Kiểm soát tuân thủ, CTCP Chứng khoán SSI; ông Nguyễn Lê Đình Quang, Tổng Giám đốc CTCP Quản lý quỹ Lighthouse Capital; bà Lê Thị Ngọc Ánh, Giám đốc điều hành, CTCP Investing Pro; ...
Về phía cơ quan chủ quản của Tạp chí Nhà đầu tư: TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, cùng các vị Phó chủ tịch, Tổng thư ký.
Về phía Ban tổ chức: Nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư Trưởng ban tổ chức hội Thảo; nhà báo Võ Tá Quỳnh, Phó Tổng biên tập Thường trực; nhà báo Nguyễn Thái Sơn, Ủy viên Ban biên tập.
Thông tin về hội thảo sẽ được tường thuật trên Tạp chí điện tử Nhadautu.vn, Theinvestor.vn và thông qua các cơ quan báo chí, truyền hình sẽ chuyển tải rộng rãi đến cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư - Trưởng ban tổ chức hội thảo phát biểu khai mạc. Ảnh: Hữu Thắng. 

Đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn đồng bộ và bền vững
Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó xác định phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn;
Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực;
Đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng nguồn cung hàng hóa minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Theo Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư, Nghị quyết 10 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, đảm bảo cho giai đoạn tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế.
Ngày 27/6, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm nhằm quyết tâm đưa tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, trong đó 6 tháng cuối năm phấn đấu tăng trưởng 11,9%.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân khoảng 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức rất cao (khoảng 146% tới cuối năm 2025), thuộc nhóm cao nhất đối với các nước có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này đặt ra không ít thách thức trong công tác điều hành, nhất là đối với vấn đề cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Tín dụng trung - dài hạn hiện vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro kỳ hạn và áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Nhà báo Phạm Đức Sơn cũng cho rằng, trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỷ, tương đương khoảng 10% GDP… Những con số còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Tại Nghị quyết 168 ngày 27/6/2026 Chính phủ yêu cầu tiếp tục triển khai hiệu quả giải pháp phát triển thị trường chứng khoán; trình sửa đổi Luật Chứng khoán tại Kỳ họp Quốc hội tháng 10/2026, và các quy định có liên quan để nâng cao năng lực thị trường; thiết kế các sản phẩm tài chính mới, thu hút dòng vốn của các nhà đầu tư quốc tế vào Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Gần nhất, tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng" diễn ra ngày18/7, Thủ tướng tiếp tục yêu cầu phát triển lành mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp; ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn. Đặc biệt, giao Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam trong tháng 7/2026.

Trên cơ sở đó, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" nhằm tạo diễn đàn đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp; qua đó góp ý, đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn đồng bộ và bền vững, thúc đẩy hình thành mô hình dẫn vốn cân bằng hơn giữa hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
"Hội thảo hôm nay là một trong những hoạt động thiết thực mà Tạp chí Nhà đầu tư triển khai nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, trên tinh thần hành động mà Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn chủ xướng và hối thúc", nhà báo Phạm Đức Sơn nhấn mạnh.
Ngân hàng đã bơm thêm 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế
Phát biểu tại hội thảo, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025.
Như vậy, chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.

Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước. Ảnh: Hữu Thắng.

Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2026. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, kết quả này có sự đóng góp quan trọng của chính sách tiền tệ và tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm; đồng thời rà soát, hoàn thiện cơ chế tín dụng, đơn giản hóa thủ tục và tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.
Trong nửa đầu năm, hơn 1.000 cuộc gặp gỡ, đối thoại và kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đã được tổ chức trên toàn quốc. Nhiều chương trình tín dụng chuyên ngành cũng đạt kết quả đáng chú ý.
Chương trình cho vay lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có doanh số giải ngân lũy kế hơn 225.577 tỷ đồng, đạt 122% mục tiêu. Chương trình tín dụng nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP có doanh số giải ngân 12.440 tỷ đồng, dư nợ đạt 10.175 tỷ đồng. Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đã giải ngân khoảng 4.400 tỷ đồng; chương trình tín dụng dành cho hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược có dư nợ 11.649 tỷ đồng.
Tuy nhiên, lãnh đạo Vụ Tín dụng cảnh báo hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.

Các đại biểu tại hội thảo. Ảnh: Hữu Thắng.

Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
"Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng", bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.
Cũng theo vị lãnh đạo Vụ Tín dụng, bên cạnh điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Đây là những điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng.
"Nâng hạng không phải đích đến, mà là đòn bẩy cải cách thị trường vốn"
Ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục mở rộng mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
Theo ông Hà Duy Tùng, năm 2026 là năm mở đầu giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030, đặt nền tảng cho mục tiêu đưa Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng bứt phá. Trong 6 tháng đầu năm, kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán ghi nhận nhiều kết quả tích cực.
Đến ngày 30/6/2026, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2025 và tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Toàn thị trường có 54 doanh nghiệp đạt mức vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD.
Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP. Tổng giá trị vốn huy động qua cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt 325.300 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm 2025.
"Thị trường chứng khoán ngày càng khẳng định vị thế không thể thay thế, là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực của nền kinh tế", ông Hà Duy Tùng nhấn mạnh.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn chủ sở hữu, huy động trái phiếu dài hạn để đầu tư hạ tầng, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất mà không chịu áp lực trả nợ gốc trong ngắn hạn. Sự phát triển của thị trường cũng góp phần đa dạng hóa công cụ tài chính, giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hạn chế rủi ro mang tính hệ thống.
Ở góc độ xã hội, thị trường chứng khoán là kênh chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư thành nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh, qua đó giúp người dân cùng chia sẻ thành quả tăng trưởng của doanh nghiệp.
"Không thể có một nền kinh tế phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh", ông Tùng nói.
Một nội dung được Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đặc biệt nhấn mạnh là việc FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 10/2025, dự kiến có hiệu lực từ ngày 21/9/2026.
Theo một số dự báo, việc nâng hạng có thể giúp Việt Nam thu hút hàng tỷ USD từ các quỹ chỉ số và quỹ đầu tư chủ động. HSBC và Ngân hàng Thế giới ước tính thị trường Việt Nam có thể thu hút khoảng 8-10 tỷ USD trong dài hạn.
Tuy nhiên, ông Hà Duy Tùng cho rằng ý nghĩa lớn nhất của nâng hạng không chỉ nằm ở dòng vốn ngoại, mà còn ở động lực thúc đẩy cải cách toàn diện thị trường.
Để duy trì vị thế thị trường mới nổi và hướng tới các tiêu chuẩn cao hơn, cơ quan quản lý phải chuyển mạnh từ tư duy "quản lý những gì kiểm soát được" sang "kiến tạo phát triển và quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế". Đồng thời, thị trường cần tiếp tục xử lý các điểm nghẽn về ký quỹ trước giao dịch đối với nhà đầu tư nước ngoài, công bố thông tin bằng tiếng Anh và thủ tục mở tài khoản.
"Nâng hạng thị trường chứng khoán không phải là cái đích cuối cùng, mà là đòn bẩy chiến lược để xây dựng một thị trường vốn chuyên nghiệp, minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực tài chính toàn cầu", ông Hà Duy Tùng khẳng định.

Tín dụng gần tới hạn, thị trường vốn phải lớn nhanh hơn
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy.
Theo TS. Cấn Văn Lực, trong giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động quanh mức 39–43%. Vốn, bao gồm tiền, công nghệ, máy móc, trang thiết bị và một phần nguồn nhân lực, thường đóng góp từ 45% đến trên 50% vào tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, các nền kinh tế không thể duy trì lâu dài mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động, mà phải chuyển dần sang khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất.
Việt Nam cần đi tắt, đón đầu bằng cách kết hợp đồng thời ba yếu tố gồm đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì phát triển tuần tự. Cùng với huy động vốn, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực hợp lý, hiệu quả có ý nghĩa quyết định.
Để đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng.
Trong đó, vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, chiếm 65% tổng nhu cầu vốn.

TS. Cấn Văn Lực. Ảnh: Hữu Thắng.

Vốn tư nhân phải đóng góp gần hai phần ba nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn", TS. Cấn Văn Lực nhận định.
Theo ông, nguồn lực tài chính cho nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi kênh đều đang tồn tại những giới hạn nhất định.
Kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng. Đầu tư công còn khả năng mở rộng, song hiệu quả sử dụng vốn cần được cải thiện khi quy mô đầu tư ngày càng lớn.
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn. Thị trường vốn phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Đánh giá về thị trường chứng khoán, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra năm nhóm rủi ro, thách thức lớn, gồm mức độ biến động cao; dòng tiền và vốn hóa tập trung vào một số ngành, doanh nghiệp lớn; tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân cao, tâm lý đám đông mạnh; tính minh bạch, chuyên nghiệp còn hạn chế; sản phẩm và cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng.
Đáng chú ý, dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán đã tăng từ khoảng 125.000 tỷ đồng cuối quý I/2023 lên 445.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tương đương mức tăng hơn 3,5 lần.
“Nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính ngày càng lớn, tiềm ẩn rủi ro đáng kể, nhất là khi thị trường đảo chiều”, ông Lực cảnh báo.
Bên cạnh đó, thị trường còn đối mặt với rủi ro an ninh mạng, an toàn thông tin, dữ liệu và tội phạm tài chính gia tăng. Hệ thống công nghệ, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, xếp hạng tín nhiệm và chế độ báo cáo tài chính vẫn còn nhiều bất cập.

Theo TS. Cấn Văn Lực, điểm nghẽn quan trọng nằm ở thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. Khung pháp lý đối với các mô hình kinh doanh và sản phẩm tài chính mới còn chậm được ban hành; sở hữu chéo dù đã giảm nhưng vẫn phức tạp; rủi ro liên thông giữa hệ thống tài chính và bất động sản cần được giám sát chặt chẽ hơn.
Ông kiến nghị ban hành một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.
Thị trường cũng cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và hệ thống cảnh báo sớm; chuyển từ tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu.
Theo TS. Cấn Văn Lực, quá trình phát triển thị trường tài chính cần dựa trên ba nền tảng cốt lõi: thể chế đáng tin cậy, thông tin và dữ liệu minh bạch, kỷ luật thị trường nghiêm minh.

TP.HCM có thể hút 10 – 30 tỷ USD mỗi năm qua trung tâm tài chính quốc tế
PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM có thể hướng tới huy động khoảng 10-30 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030.
Quy mô này tương đương khoảng 3-10% tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, Trung tâm phải trở thành cửa ngõ đưa vốn quốc tế vào nền kinh tế thực, thay vì chỉ là nơi đăng ký hoạt động của các định chế tài chính hoặc cung cấp những chính sách ưu đãi.
Theo ông Huân, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đặt ra nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động trong giai đoạn này ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài ngân sách đóng vai trò chủ yếu.
Trong bối cảnh hệ thống tài chính Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, Trung tâm Tài chính quốc tế có thể mở thêm một kênh huy động vốn trung và dài hạn, bổ sung cho thị trường chứng khoán, trái phiếu và các định chế đầu tư trong nước.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là huy động được thêm bao nhiêu vốn, mà còn nằm ở khả năng chuyển hóa vốn thành năng lực sản xuất, công nghệ và hạ tầng.
“Điểm nghẽn không chỉ nằm ở quy mô vốn, mà còn ở khả năng đưa vốn vào những ngành có năng suất biên cao”, PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân nhận định.

PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế TP.HCM. Ảnh: Hữu Thắng.

Theo ông, các lĩnh vực cần được ưu tiên gồm hạ tầng, logistics, năng lượng, công nghệ, đô thị, dữ liệu và chuyển đổi xanh. Trung tâm phải tham gia vào quá trình cấu trúc giao dịch, định giá rủi ro, chuẩn hóa hồ sơ và kết nối các dự án trong nước với nhà đầu tư quốc tế.
Việt Nam có lợi thế khác biệt là một nền kinh tế thực đang tăng trưởng nhanh, với nhu cầu đầu tư lớn vào sản xuất, hạ tầng, năng lượng và công nghệ. Nếu kết nối được hoạt động quản lý tài sản với nhu cầu vốn của doanh nghiệp và các dự án trong nước, Việt Nam có thể tạo ra nguồn “hàng hóa đầu tư” hấp dẫn đối với các quỹ quốc tế.
PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng TP.HCM không nên đặt mục tiêu cạnh tranh trực tiếp với Singapore, Hồng Kông hay London về quy mô và thanh khoản trong giai đoạn đầu.
Khoảng cách giữa TP.HCM với các trung tâm tài chính đã phát triển về chiều sâu thị trường, mức độ đa dạng sản phẩm, nguồn nhân lực, dịch vụ hỗ trợ và khả năng luân chuyển vốn vẫn còn lớn. Lợi thế của người đi sau là có thể lựa chọn các phân khúc phù hợp, ứng dụng công nghệ ngay từ đầu và tránh sao chép mô hình truyền thống.
Về chiến lược sản phẩm, TP.HCM có thể ưu tiên quản lý tài sản và quỹ đầu tư, trái phiếu quốc tế, giao dịch hàng hóa và sản phẩm phái sinh, công nghệ tài chính, tài chính xanh và đổi mới sáng tạo.
Hai thị trường ngách được ông Huân đặc biệt lưu ý là tài chính hàng hải và tài chính hàng không.
Khu vực phía Nam có hệ thống cảng biển lớn như Cái Mép - Thị Vải và dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. Tuy nhiên, nhiều dịch vụ tài chính phục vụ vận tải biển của doanh nghiệp Việt Nam, như tài trợ tàu, bảo hiểm, thanh toán và quản trị rủi ro, vẫn được thực hiện tại nước ngoài, chủ yếu ở Singapore.
Đây là khoảng trống TP.HCM có thể khai thác bằng cách kết nối doanh nghiệp cảng biển, logistics, hãng tàu, ngân hàng, bảo hiểm và nhà đầu tư, từng bước hình thành hệ sinh thái tài chính hàng hải có giá trị gia tăng cao.
Trong lĩnh vực hàng không, Trung tâm có thể phát triển các hoạt động tài trợ mua và thuê máy bay, bảo hiểm, quản lý tài sản hàng không, phát hành trái phiếu và các sản phẩm tài chính phục vụ doanh nghiệp trong ngành.
Tài chính xanh cũng cần trở thành một trụ cột khi Việt Nam cần nguồn vốn lớn cho chuyển đổi năng lượng, hạ tầng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Các sản phẩm có thể phát triển gồm trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng, tài chính carbon và những công cụ chia sẻ rủi ro cho dự án chuyển đổi.

Theo PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Việt Nam không hẳn thiếu nhà đầu tư mà đang thiếu những dự án đủ hấp dẫn và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Một dự án muốn huy động được vốn phải có cấu trúc tài chính rõ ràng, dòng tiền có thể dự báo, cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý, hồ sơ minh bạch và năng lực báo cáo theo chuẩn quốc tế. Vì vậy, Trung tâm cần xây dựng danh mục dự án có khả năng đầu tư, đồng thời hỗ trợ cấu trúc giao dịch, định giá rủi ro và kết nối với những nhà đầu tư có khẩu vị phù hợp.
Bên cạnh sản phẩm, chất lượng thể chế, cơ chế giải quyết tranh chấp và năng lực thực thi sẽ quyết định niềm tin của dòng vốn quốc tế. Nhà đầu tư cần một hệ thống tài phán minh bạch, có khả năng sử dụng tiếng Anh, tham chiếu thông lệ quốc tế và bảo đảm các phán quyết được thi hành.
"Trung tâm Tài chính quốc tế phải là nơi dòng vốn quốc tế được cấu trúc, định giá, bảo vệ và chuyển hóa thành năng lực sản xuất của Việt Nam và khu vực", ông Huân nhấn mạnh.
Theo ông, TP.HCM cần trở thành một "hệ điều hành của dòng vốn", gắn với nền kinh tế thực và các lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, thay vì trở thành phiên bản thu nhỏ của một trung tâm tài chính đã trưởng thành.

THẢO LUẬN MỞ

Phiên I: Hoàn thiện thể chế, khơi thông các kênh huy động vốn
Điều phối phiên thảo luận, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho biết, các tham luận tại phiên thứ nhất đã cung cấp nhiều thông tin và phân tích công phu về nhu cầu vốn, thực trạng các kênh dẫn vốn cũng như những giải pháp phát triển thị trường tài chính trong giai đoạn tới.

TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài điều phối phiên thảo luận mở. Ảnh: Hữu Thắng.

Theo người điều phối, các tham luận đều đề cập nhu cầu vốn rất lớn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao. Trong khi đó, tín dụng ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn và tiến gần giới hạn về tỷ lệ đòn bẩy.
Ở chiều ngược lại, đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã nêu những kết quả tích cực của thị trường chứng khoán thời gian qua. Tuy nhiên, TS. Cấn Văn Lực cũng chỉ ra hàng loạt hạn chế và rủi ro, từ quy mô, cơ cấu nhà đầu tư, mức độ tập trung đến dư nợ cho vay ký quỹ tăng nhanh.
Bên cạnh đó, việc nâng hạng thị trường chứng khoán và xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM đang được kỳ vọng sẽ mở thêm các kênh huy động vốn mới. Song những mục tiêu đặt ra tương đối lớn, đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ về thể chế, sản phẩm, hạ tầng, nhân lực và năng lực thực thi.
Làm sao hoàn thiện thể chế vừa nhanh, vừa bảo đảm chất lượng?
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Các diễn giả đều nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách để khơi thông thị trường vốn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy khối lượng công việc đặt ra đối với các cơ quan xây dựng pháp luật hiện nay là rất lớn. Trong thời gian ngắn, nhiều luật phải được sửa đổi, bổ sung, cùng với hàng loạt nghị định và văn bản hướng dẫn liên quan. Vậy làm thế nào để công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật vừa đáp ứng được khối lượng công việc rất lớn, bảo đảm tiến độ nhanh, vừa duy trì chất lượng, tính đồng bộ và khả năng thực thi? Đâu là những nguyên tắc cần ưu tiên để hạn chế tình trạng chính sách vừa ban hành đã phải tiếp tục sửa đổi hoặc phát sinh vướng mắc trong thực tế? Xin mời, TS. Cấn Văn Lực; PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân phân tích thêm từ góc nhìn của mình".

TS. Cấn Văn Lực: Tôi khá băn khoăn về câu chuyện xây dựng và thực thi pháp luật hiện nay. Trong khâu thực thi, nhiều bộ, ngành và địa phương vẫn còn lúng túng trong việc làm thế nào để vừa triển khai nhanh, vừa bảo đảm hiệu quả.
Để nâng cao chất lượng chính sách, cần huy động tốt hơn các nguồn lực xã hội, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia. Tuy nhiên, việc tham vấn phải có cơ chế phù hợp để ý kiến đóng góp thực sự đi vào quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, thay vì chỉ mang tính hình thức.
Một vấn đề khác là các địa phương và doanh nghiệp hiện chưa biết nên tiếp cận, tra cứu thông tin pháp luật từ đâu để bảo đảm chính xác và hiệu quả. Thực tế, khoảng 70% hoạt động tìm hiểu thông tin pháp luật đang diễn ra trên mạng xã hội. Tỷ lệ này cần được đảo chiều, để khoảng 60-70% thông tin pháp luật được tiếp cận qua các kênh chính thống.

TS. Cấn Văn Lực. Ảnh: Hữu Thắng.

Muốn vậy, cần sắp xếp lại hệ thống cung cấp và phổ biến thông tin pháp luật, đồng thời xây dựng một nền tảng thống nhất để thường xuyên cập nhật, tổng hợp và tổ chức tập huấn.
Mỗi năm có thể sửa đổi từ 40-70 luật thì địa phương và doanh nghiệp rất khó theo kịp. Vì vậy, bên cạnh việc công bố toàn văn, cần có các bản tóm tắt ngắn gọn về những điểm mới, những nội dung tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và địa phương.
Các tài liệu này phải được công khai, minh bạch, dễ tra cứu và dễ áp dụng. Công tác truyền thông chính sách cũng cần được thực hiện chủ động và hiệu quả hơn.
Hiện nay, chúng ta chủ yếu đăng tải toàn bộ văn bản pháp luật lên website. Cách làm này là cần thiết nhưng chưa đủ. Người dân, doanh nghiệp và địa phương cần thêm những bản giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, chỉ rõ nội dung thay đổi, đối tượng chịu tác động và cách thức thực hiện.
PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân: Hiện Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM đang trong giai đoạn chuẩn bị đi vào hoạt động. Chúng tôi đang chờ Hội đồng Điều hành thông qua quy chế hoạt động và kỳ vọng Trung tâm có thể chính thức vận hành ngay trong tháng này
Khung pháp lý cho Trung tâm đã từng bước được hình thành với nghị quyết và 8 nghị định liên quan. Tuy nhiên, để triển khai trong thực tế, vẫn cần thêm các thông tư của bộ, ngành và văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành các nghị định
Trung tâm đang phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan để hoàn thiện các quy định cụ thể, chẳng hạn như điều kiện, thủ tục thành lập quỹ đầu tư, các định chế quản lý quỹ, ngân hàng và những tổ chức tài chính khác hoạt động trong Trung tâm.

PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân. Ảnh: Hữu Thắng.

Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, khung pháp lý áp dụng tại TP.HCM và Đà Nẵng đã cơ bản được hoàn thiện và đang được lấy ý kiến các bộ, ngành. Sau khi quy chế được ban hành và có sự thống nhất của các cơ quan liên quan, Trung tâm Tài chính quốc tế tại hai thành phố sẽ triển khai cơ chế sandbox để thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và mô hình tài chính mới.
Quan điểm của chúng tôi là phải thận trọng trong giai đoạn đầu. Đây là mô hình mới nên việc cấp phép cho các định chế tài chính tham gia cần được thực hiện có chọn lọc, trước mắt ưu tiên các tổ chức lớn, có uy tín trên thế giới và tại Việt Nam.
Chúng ta cần tránh cấp phép tràn lan vì có thể gây khó khăn cho công tác quản lý về sau. Sau khi các định chế đi vào hoạt động, nếu phát sinh bất cập, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục đánh giá và điều chỉnh cơ chế cho phù hợp.
Hiện Trung tâm đang tích cực xúc tiến đầu tư tại nhiều quốc gia, bao gồm các thị trường phát triển và các nước trong khu vực. Theo thống kê, hơn 100 định chế tài chính quốc tế đã bày tỏ mong muốn trở thành thành viên của Trung tâm, chưa tính các tổ chức tài chính trong nước.
Trong chuyến xúc tiến đầu tư tại Mỹ vừa qua, nhiều tập đoàn lớn của Mỹ cũng bày tỏ sự quan tâm và mong muốn tham gia Trung tâm trong thời gian tới.
Ngay sau khi quy chế hoạt động được thông qua, Trung tâm sẽ mở cổng đăng ký để các định chế tài chính nộp hồ sơ tham gia.
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Vấn đề tiếp theo, xin được dành câu hỏi cho ông Nguyễn Văn Thân, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
Khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi nhiều doanh nghiệp lớn cũng đang huy động lượng vốn rất lớn từ cùng kênh này.
Theo ông, thực trạng đó ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa? Những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở chi phí vốn, điều kiện vay, tài sản bảo đảm hay sự cạnh tranh nguồn vốn với các doanh nghiệp lớn?

Doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó vay
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME): Trong kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã đề xuất sáu nhóm nội dung, trong đó có vấn đề xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Văn Thân. Ảnh: Hữu Thắng.

Theo tôi, cần có cơ chế công nhận kết quả xếp hạng tín nhiệm để tạo niềm tin cho thị trường. Khi được thực hiện bài bản, đây sẽ là công cụ quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo mức độ uy tín, năng lực tài chính và khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Kết quả xếp hạng tín nhiệm cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khi nhà đầu tư có nhu cầu nội địa hóa chuỗi cung ứng hoặc tìm kiếm đối tác đặt hàng, họ có thể dựa vào kết quả xếp hạng để lựa chọn doanh nghiệp phù hợp.
Đối với các ngân hàng, xếp hạng tín nhiệm có thể trở thành một nguồn thông tin tham khảo trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng, qua đó giảm bớt sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
Với nhà đầu tư nước ngoài, việc doanh nghiệp được xếp hạng theo các mức A, B, C… sẽ là tín hiệu quan trọng để đánh giá mức độ uy tín, năng lực và rủi ro trước khi quyết định hợp tác hoặc đầu tư.
Đối với vấn đề của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng ta không thể coi thường hoặc hờ hững với họ. Nếu như thế, nền kinh tế sẽ thất bại. Bởi lực lượng này chiếm khoảng 97-98% doanh nghiệp.
Điều quan trọng nhất với các DNNVV là vốn, song còn quan trọng hơn là họ phải vay ngay, đáp ứng vốn ngay. Bởi DNNVV tự thân là chủ yếu. Họ dựa vào chính minh là chủ yếu nên tác động từ môi trường bên ngoài ít hơn. Đây là lực lượng đại diện cho hầu hết các ngành nghề.
Hiện nay tôi thấy doanh nghiệp chủ yếu vay từ ngân hàng truyền thống. Không có kênh nào khác nếu chúng ta không thành lập ngân hàng chuyên biệt và sớm có quy chế sandbox, để các bên có thể cho vay lẫn nhau. Từ việc cho vay lẫn nhau mới dẫn đến việc người dân có tiền nhàn rỗi sẽ bỏ vào, từ đó mới huy động được trái phiếu doanh nghiệp và các nguồn vốn khác. Chứ bây giờ cứ thử nghiệm mãi thì tôi thấy không ổn. Các nước họ làm rồi.
Khi ngân hàng huy động được nhiều vốn thì họ sẽ cho vay. Nhưng về cách cho vay thì tôi xin đề nghị giải thể Quỹ Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mười năm nay tôi vẫn đề nghị giải thể vì không giải quyết được vấn đề gì. Toàn bộ nguồn lực đó nên chuyển cho ngân hàng để cho vay. Nếu không giải thể thì sắp tới sửa Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng phải tính đến việc này.
Một vấn đề nữa là doanh nghiệp nhỏ và vừa có lực lượng gần 6 triệu hộ kinh doanh. Họ hiện vẫn là hộ kinh doanh nhưng có khi vốn rất lớn. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nên bao gồm cả nhóm này (vốn 3 tỷ trở lên). Tôi đề nghị lấy ngưỡng doanh thu 3 tỷ đồng: dưới 3 tỷ đồng thì không nộp thuế, từ 3 tỷ đồng trở lên thì nộp thuế. Khi đã nộp thuế thì về bản chất cũng không khác doanh nghiệp là mấy, nên họ cũng cần được hưởng các chính sách của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tôi cũng đề nghị đổi tên luật, từ "Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa" thành "Luật Phát triển doanh nghiệp tư nhân".
DNNVV rất khó vay. Thủ tướng yêu cầu hạ lãi suất để doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, chủ trương rất đúng. Thống đốc cũng yêu cầu các ngân hàng Big4 và các ngân hàng thương mại cổ phần tăng cho vay. Nhưng hàng rào kỹ thuật khiến họ không cho vay. Lý do rất đơn giản: cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa thì rủi ro, phức tạp và lợi nhuận thấp vì lãi suất phải giảm. Kết quả là chính sách càng ưu tiên thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng khó tiếp cận vốn, trong khi vốn lại tập trung vào doanh nghiệp lớn. Cuối cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu thiệt.
Tôi xin đề nghị, thứ nhất, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần kết nạp cả hộ kinh doanh đang nộp thuế. Họ phải được hưởng đầy đủ các chính sách. Khi đó tôi mới có thể vận động họ thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hai thành viên hoặc công ty cổ phần. Nếu tham gia thì họ sẽ được ưu đãi thuế ba năm. Có như vậy những hộ có tiềm lực mới chuyển lên doanh nghiệp. Tôi đề nghị những hộ có doanh thu từ 3 tỷ đồng trở lên khi chuyển đổi sẽ được miễn thuế ba năm đầu, ba năm tiếp theo giảm 50%.
Một vấn đề rất quan trọng nữa là hiện nay theo thống kê của còn khoảng 500.000 tỷ đồng vốn trong dân chưa huy động được. Theo suy nghĩ của tôi, trước đây vàng, ngoại tệ, USD gửi ngân hàng đều hưởng lãi suất 0%, trong khi Quốc hội lại chấp nhận đi vay các tổ chức quốc tế với lãi suất khoảng 6%. Trong khi đó người dân gửi ngoại tệ thì được 0%.
Muốn huy động được vàng, ngoại tệ và USD trong dân thì người dân phải được hưởng lợi. Nếu Nhà nước đi vay quốc tế với lãi suất khoảng 6% thì hoàn toàn có thể có cơ chế huy động trong dân với mức phù hợp. Khi có lợi ích, người dân sẽ đưa tiền vào hệ thống, còn Chính phủ thì quản lý được nguồn vốn. Huy động vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng và cho nền kinh tế nói chung vẫn còn rất nhiều dư địa. Quan trọng là chúng ta phải nhìn thẳng vào thực tế để có cách làm phù hợp.
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay đang tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xin ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank, cho biết ông đánh giá như thế nào về diễn biến lãi suất hiện nay?
Trong thời gian tới, lãi suất huy động và cho vay có còn dư địa giảm hay không? Đồng thời, các ngân hàng có thể triển khai những giải pháp nào để giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn?
Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank: Lãi suất đầu vào và đầu ra của ngân hàng chịu tác động lớn từ chính sách điều hành và diễn biến thị trường. Mục tiêu là làm sao người vay có thể tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, vẫn duy trì được hiệu quả sản xuất, kinh doanh và có nguồn lực tích lũy.
Thời gian qua, thị trường huy động vốn khá nóng khi lãi suất tiền gửi tăng. Nếu lãi suất quá thấp, người dân sẽ không mặn mà gửi tiền vào ngân hàng. Vì vậy, chi phí huy động tăng sẽ tạo áp lực nhất định lên mặt bằng lãi suất cho vay.
Tuy nhiên, một giải pháp rất quan trọng để doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn là đẩy mạnh xếp hạng tín nhiệm. Khi doanh nghiệp được đánh giá bởi một tổ chức có uy tín và kết quả đó được thị trường công nhận, ngân hàng có thể sử dụng làm cơ sở quan trọng trong quá trình thẩm định tín dụng.

Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Khách hàng doanh nghiệp HDBank

Qua quá trình làm việc với nhiều tổ chức trong và ngoài nước, tôi nhận thấy xếp hạng tín nhiệm có vai trò rất lớn. Khi đó, quyết định cho vay sẽ dựa nhiều hơn vào mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào đánh giá chủ quan của từng ngân hàng.
HDBank sẽ kiến nghị Hội đồng quản trị nghiên cứu áp dụng cơ chế cho vay dựa trên tín nhiệm. Chúng ta cần từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm và chuyển sang đánh giá doanh nghiệp theo điểm tín nhiệm, phù hợp với quy mô, năng lực tài chính và mức độ rủi ro của từng khách hàng.
Đối với những doanh nghiệp đạt mức tín nhiệm đầu tư, ngân hàng có thể đơn giản hóa quy trình thẩm định, không cần đi quá sâu vào từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính như đối với các doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn.
Nếu điểm tín nhiệm của doanh nghiệp được cải thiện, yêu cầu về tài sản bảo đảm có thể giảm xuống, đồng thời lãi suất cho vay cũng có điều kiện thấp hơn.
Vì vậy, Việt Nam cần phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm đủ tin cậy, minh bạch và được công nhận rộng rãi. Đây sẽ là nền tảng để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận vốn ngân hàng thuận lợi hơn.

Muốn giảm lãi suất phải tăng nguồn cung vốn dài hạn
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Trở lại vấn đề mặt bằng lãi suất cho vay đang ở mức cao và tạo áp lực đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, tôi xin mời ông Lê Mạnh Linh, Tổng giám đốc EVNFinance, bình luận thêm. Theo ông, lãi suất huy động và cho vay trong thời gian tới sẽ diễn biến như thế nào? Các tổ chức tín dụng còn dư địa giảm lãi suất và triển khai giải pháp gì để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn?
Ông Lê Mạnh Linh, Tổng giám đốc EVNFinance: Lãi suất về bản chất là câu chuyện cung – cầu. Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao nên nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Khi cầu vốn vượt cung, giá vốn tất yếu tăng.
Một nguyên nhân quan trọng khác là sự mất cân đối về kỳ hạn. Các ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn nhưng lại phải đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.
Trong khi tiếp tục tài trợ cho các dự án mới, tổ chức tín dụng còn phải huy động nguồn lực để hoàn trả những khoản vốn đã vay trước đó từ cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Áp lực vừa bổ sung vốn mới, vừa thanh toán vốn cũ buộc ngân hàng phải huy động với chi phí cao hơn, từ đó đẩy lãi suất cho vay tăng theo.
Nếu để thị trường tự điều chỉnh, khi lãi suất cho vay tăng đến mức doanh nghiệp không còn khả năng vay, nhu cầu tín dụng sẽ giảm, kéo theo lãi suất huy động hạ nhiệt. Tuy nhiên, đây không phải kịch bản mong muốn vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng GDP.

Ông Lê Mạnh Linh, Tổng giám đốc EVNFinance

Giải pháp bơm thêm tiền vào nền kinh tế cũng cần được cân nhắc thận trọng, bởi mở rộng cung tiền quá mức có thể làm gia tăng áp lực lạm phát.
Vì vậy, một trong những hướng đi quan trọng là thu hút thêm nguồn vốn từ nước ngoài. Đây cũng là lý do Việt Nam phát triển trung tâm tài chính quốc tế và các tổ chức tài chính đang tích cực huy động vốn trên thị trường quốc tế.
Các tổ chức tài chính có lợi thế trong tiếp cận nguồn vốn nước ngoài do hệ thống báo cáo, quản trị và công bố thông tin ngày càng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, giúp nhà đầu tư dễ đánh giá hơn. Qua đó, các tổ chức này có thể đóng vai trò cầu nối đưa dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế.
Bên cạnh quy mô nguồn vốn, cần giải quyết căn cơ bài toán kỳ hạn. Việt Nam phải phát triển mạnh thị trường chứng khoán và trái phiếu để tạo thêm nguồn vốn trung và dài hạn.
Khi huy động được nguồn vốn có kỳ hạn 3–5 năm để tài trợ cho các dự án có thời gian hoàn vốn tương ứng, các tổ chức tài chính sẽ giảm áp lực phải liên tục sử dụng vốn ngắn hạn, qua đó hạn chế sức ép lên lãi suất đầu vào.
GDP tăng cao, vì sao thị trường chứng khoán lại đi ngược?
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Từ góc độ hạ tầng thị trường, xin ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cho biết dư địa phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay còn đến đâu? Theo ông, cần những giải pháp gì để tăng nguồn cung hàng hóa có chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm đầu tư và tạo thêm sức hấp dẫn cho thị trường?
Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam: Một nền kinh tế hướng tới tăng trưởng hai con số nhưng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro.
Hiện quy mô tín dụng tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Đây là cấu trúc vốn chưa cân bằng so với thông lệ quốc tế.
Ở nhiều nền kinh tế, tín dụng ngân hàng chỉ chiếm khoảng 25–30% cơ cấu vốn, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 15%, phần còn lại được cung ứng qua thị trường vốn, gồm cổ phiếu và trái phiếu. Đây là cấu trúc bền vững mà Việt Nam cần hướng tới trong giai đoạn đến năm 2030.
Gốc rễ của vấn đề là hệ thống ngân hàng khó huy động được lượng lớn vốn dài hạn. Phần lớn nguồn vốn đầu vào có kỳ hạn ngắn nhưng lại được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, tạo ra tình trạng sai lệch kép về kỳ hạn và dòng tiền, làm gia tăng rủi ro cho hệ thống.
Tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức 146% không hẳn quá cao nếu so với một số quốc gia trong khu vực, nơi con số này có thể đạt 170–190%. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế đó, quy mô thị trường chứng khoán cũng tương xứng hoặc lớn hơn tín dụng.
Trong khi đó, tại Việt Nam, tín dụng đã tương đương 146% GDP nhưng vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Vấn đề cốt lõi vì vậy không phải tín dụng quá lớn, mà là thị trường vốn còn quá nhỏ.
Đến năm 2030, Việt Nam có thể cần khoảng 1.500 tỷ USD vốn đầu tư, tương đương hơn ba lần GDP và khoảng 3,7 lần quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu này, cần đồng thời huy động nguồn lực trong nước và quốc tế.
Đối với vốn nước ngoài, Việt Nam phải tiếp tục tháo gỡ các rào cản tiếp cận thị trường, thực hiện đầy đủ các yêu cầu để nâng hạng theo chuẩn FTSE Russell từ tháng 9/2026, đồng thời hướng tới các tiêu chuẩn cao hơn của MSCI trong giai đoạn 2029–2030. Muốn vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế cấp phép, kết nối xử lý lệnh tự động, mô hình đối tác bù trừ trung tâm và các hạ tầng giao dịch, thanh toán theo chuẩn quốc tế.

Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam

Một nghịch lý cần được quan tâm là kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao trong nửa đầu năm, nhưng diễn biến của thị trường vốn chưa phản ánh tương xứng. Một số ngành cơ bản, có vai trò cốt lõi với nền kinh tế, vẫn chịu áp lực giảm giá. Đây là vấn đề cần xử lý để khơi thông nguồn vốn cho nửa cuối năm và những năm tiếp theo.
Về phía cung, cần đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ; tạo điều kiện cho các tập đoàn tư nhân thực hiện IPO; cho phép doanh nghiệp FDI phát hành cổ phiếu lần đầu gắn với niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thị trường cũng cần phát triển thêm những sản phẩm mới như sàn giao dịch dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, trái phiếu cho các dự án đối tác công tư, trái phiếu xanh và những sản phẩm gắn với tiêu chuẩn ESG.
Đối với bất động sản, đây vẫn là lĩnh vực có đóng góp lớn cho tăng trưởng, đồng thời chiếm khoảng 23–25% tổng dư nợ tín dụng ngân hàng. Vì vậy, nhu cầu vốn của lĩnh vực này cần được xử lý bằng các công cụ phù hợp, tránh để rủi ro tích tụ trong hệ thống ngân hàng.
Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng, cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm chứng khoán hóa khoản vay bất động sản, qua đó chuyển một phần nhu cầu vốn dài hạn sang thị trường vốn và phân tán rủi ro tốt hơn.
Ở phía cầu, Việt Nam hiện có khoảng 13,5 triệu tài khoản chứng khoán nhưng hơn 98% thuộc về nhà đầu tư cá nhân. Tỷ trọng này khiến thị trường dễ chịu tác động bởi tâm lý đám đông và biến động mạnh.
Vì vậy, cần phát triển mạnh các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và những định chế đầu tư dài hạn. Khi tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức tăng lên, thị trường sẽ ổn định hơn, khả năng hấp thụ các đợt phát hành lớn cũng được cải thiện.
Để thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực, Việt Nam phải đồng thời tăng nguồn cung hàng hóa có chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và xây dựng cơ cấu nhà đầu tư chuyên nghiệp hơn.
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin cảm ơn ông Nguyễn Sơn. Trong phần trao đổi vừa rồi, ông có đề cập một vấn đề tôi cũng đặc biệt quan tâm, đó là khả năng doanh nghiệp FDI chuyển đổi thành công ty cổ phần, thực hiện IPO và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Xin ông cho biết, ở thời điểm hiện tại, hành lang pháp lý đã cho phép doanh nghiệp FDI thực hiện việc chuyển đổi, phát hành cổ phiếu và niêm yết hay chưa? Nếu đã có cơ sở pháp lý, đâu là những vướng mắc khiến số lượng doanh nghiệp FDI niêm yết trên thị trường vẫn còn rất hạn chế?
Ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam: Chúng ta đã thí điểm 13-15 DN FDI lên sàn và có một số công ty hoạt động rất tốt. Trong vòng cuối 2005, chúng ta đặt ra vấn đề tháo gỡ pháp lý để cho FDI chuyển đổi sang CTCP thông qua IPO kết hợp niêm yết lên sàn chứng khoán.
Về tháo gỡ Thông tư 179 có hướng dẫn chi tiết. Trong Nghị định 245 của Chính phủ, IPO gắn với niêm yết luôn. Đây là tháo gỡ cho doanh nghiệp FDI có thể huy động các nguồn lực. Do họ có nền tảng quản trị, thu hút vốn chính quốc ở nhiều dự án, sản phẩm của FDI. Tôi nghĩ đây việc này sẽ sớm tực hiện.
Thị trường vốn không thiếu giải pháp, mấu chốt là năng lực thực thi
TS. Nguyễn Anh Tuấn
: Quay trở lại câu chuyện phát triển đồng bộ các kênh dẫn vốn, Ban Tổ chức muốn lắng nghe thêm góc nhìn từ đại diện các công ty chứng khoán – lực lượng trực tiếp tham gia tư vấn huy động vốn, phân phối sản phẩm và kết nối doanh nghiệp với nhà đầu tư. Xin mời ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS), chia sẻ quan điểm.
Phát triển thị trường chứng khoán theo hướng đồng bộ, lành mạnh và hiện đại là vấn đề đã được đặt ra trong nhiều năm. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay đã khác, khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng mạnh, thị trường bước vào giai đoạn nâng hạng và yêu cầu về chất lượng hàng hóa, nhà đầu tư, hạ tầng cũng như tính minh bạch ngày càng cao. Theo ông, đâu là những giải pháp cần được ưu tiên để thị trường chứng khoán Việt Nam thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả, đồng thời phát triển an toàn, bền vững trong giai đoạn mới?
Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Chứng khoán SHS: Việt Nam chưa bao giờ có mục tiêu, khát vọng và hệ thống giải pháp phát triển thị trường vốn rõ ràng, đồng bộ như hiện nay. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất trong giai đoạn tới không còn là tiếp tục đề xuất thêm giải pháp, mà là nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.
Theo tôi, để thị trường vốn phát triển đồng bộ, lành mạnh, minh bạch và hiện đại, cần tập trung vào ba vấn đề: mở cửa thị trường một cách thực chất, cải thiện cơ cấu ngành nghề trên thị trường chứng khoán và nâng cao vai trò của nhà đầu tư tổ chức.
Thứ nhất, cần tạo điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam một cách thực chất.
Chúng ta phải phân biệt giữa mức độ mở cửa được quy định trong pháp luật với khả năng nhà đầu tư nước ngoài thực sự mua được cổ phiếu. Dù nhiều quy định đã được điều chỉnh theo hướng mở rộng khả năng tham gia, trên thực tế vẫn tồn tại khoảng cách giữa tỷ lệ sở hữu tối đa và lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng mà nhà đầu tư có thể tiếp cận.

Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS)

Thị trường cần thêm doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước thực hiện IPO, niêm yết. Tuy nhiên, tại nhiều doanh nghiệp có chất lượng, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng còn thấp nên nhà đầu tư khó tiếp cận. Vì vậy, cần rà soát những ngành nghề không nhất thiết phải hạn chế sở hữu nước ngoài, đồng thời xây dựng lộ trình tăng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng tại các doanh nghiệp niêm yết.
Thứ hai, cơ cấu ngành nghề trên thị trường chứng khoán cần phản ánh đầy đủ hơn cơ cấu của nền kinh tế. Hiện nhóm ngân hàng, tài chính và bất động sản chiếm khoảng 50–60% tổng vốn hóa. Sự tập trung này đã được nhắc đến trong nhiều năm nhưng chưa có lộ trình cụ thể để cải thiện. Theo ông Linh, cần đặt ra các mục tiêu có thể đo lường, chẳng hạn từng bước đưa tỷ trọng của ba nhóm ngành trên từ khoảng 60% xuống 55%, 50%, 45% và tiến tới mức cân bằng hơn.
Muốn vậy, thị trường phải bổ sung thêm doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, tiêu dùng, hạ tầng, năng lượng, logistics và những ngành kinh tế mới. Quá trình cổ phần hóa, IPO và niêm yết cần được triển khai có chọn lọc, xác định rõ nhóm doanh nghiệp, ngành nghề nào cần ưu tiên để cải thiện chất lượng và mức độ đại diện của thị trường, thay vì chỉ theo đuổi mục tiêu tăng số lượng.
Việc phụ thuộc quá lớn vào một số cổ phiếu và ngành có vốn hóa cao cũng khiến các chỉ số chứng khoán chưa phản ánh đầy đủ tình trạng của phần lớn doanh nghiệp trên thị trường.
Thứ ba, Việt Nam cần nhanh chóng phát triển lực lượng nhà đầu tư tổ chức. Nhà đầu tư cá nhân hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch, trong khi các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và tổ chức quản lý tài sản dài hạn còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân khiến thị trường dễ biến động mạnh và chịu ảnh hưởng lớn bởi tâm lý ngắn hạn.
Do đó, cần xây dựng một chương trình cụ thể phát triển nhà đầu tư tổ chức trong nước, với các chỉ tiêu đo lường rõ ràng như số lượng quỹ đầu tư được thành lập hằng năm, quy mô tài sản quản lý, tỷ trọng giao dịch của nhà đầu tư tổ chức và khả năng huy động vốn dài hạn. Đối với từng nhóm giải pháp, cần xác định rõ thời hạn hoàn thành, cơ quan chịu trách nhiệm, kết quả đầu ra và tiêu chí đánh giá. Nếu các cơ quan, tổ chức và thành viên thị trường cùng triển khai với tốc độ đồng bộ, một hoặc ba năm sau, chúng ta sẽ không còn phải tiếp tục tổ chức hội thảo để bàn về giải pháp. Khi đó, nội dung cần thảo luận sẽ là kết quả thực thi và mức độ hoàn thành các mục tiêu.

Sớm vận hành CCP, mở đường cho T+0 và bán khống có bảo đảm
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin mời ông Thiều Hữu Chung, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Minh, bình luận và bổ sung thêm những giải pháp cụ thể. Từ thực tiễn hoạt động của công ty chứng khoán, theo ông, đâu là những điểm nghẽn cần ưu tiên tháo gỡ để nâng cao chất lượng hàng hóa, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và giúp thị trường chứng khoán thực hiện tốt hơn vai trò dẫn vốn cho nền kinh tế?
Ông Thiều Hữu Chung, Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Minh: Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và sớm đưa mô hình đối tác bù trừ trung tâm (CCP) vào vận hành.
Cùng với đó, thị trường phải tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng công nghệ, khai thác hiệu quả hệ thống KRX và từng bước triển khai các cơ chế giao dịch mới như giao dịch trong ngày, bán khống có bảo đảm. Đây là những điều kiện quan trọng để đa dạng hóa phương thức giao dịch và cải thiện thanh khoản.
Một yêu cầu khác là nâng cao chất lượng quản trị và tính minh bạch của thị trường. Thông tin phải được công bố kịp thời, đầy đủ và chính xác nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, đồng thời củng cố niềm tin đối với thị trường chứng khoán.
Bên cạnh hạ tầng và minh bạch, cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm đầu tư và xây dựng cơ chế đủ sức khuyến khích các doanh nghiệp lớn, có nền tảng tốt tham gia niêm yết, huy động vốn.
 

 

Nâng hạng thị trường không chỉ là mục tiêu về mặt xếp hạng. Quan trọng hơn, quá trình này phải góp phần nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiệu quả vận hành của thị trường vốn. Khi được nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ có thêm cơ hội thu hút dòng vốn trong và ngoài nước, gia tăng thanh khoản, đồng thời mở rộng khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế trong giai đoạn 2025–2030. Đối với các công ty chứng khoán, cần ưu tiên tăng cường năng lực tài chính, tiếp tục đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị, kiểm soát rủi ro và năng lực vận hành. Việc nâng hạng vì vậy không chỉ tạo động lực cho ngành chứng khoán, mà còn có thể tạo thêm xung lực tăng trưởng cho toàn bộ nền kinh tế.
Khung pháp lý đã rõ hơn, thị trường trái phiếu cần khôi phục niềm tin bằng thực thi
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin được dành câu hỏi cho ông Nguyễn Khắc Hải, Giám đốc Khối phụ trách Luật và Kiểm soát tuân thủ, Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã được thảo luận nhiều và cũng từng được tháo gỡ bằng một số giải pháp mang tính tình thế. Tuy nhiên, đến nay thị trường vẫn phục hồi chậm, thanh khoản còn hạn chế và niềm tin của nhà đầu tư chưa được khôi phục đầy đủ. Theo ông, đâu là những nguyên nhân cốt lõi khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển tương xứng với nhu cầu vốn của nền kinh tế? Cần những giải pháp gì về pháp lý, minh bạch thông tin, xếp hạng tín nhiệm và tổ chức thị trường để kênh vốn này phát triển an toàn, bền vững hơn?
Ông Nguyễn Khắc Hải, Giám đốc Khối phụ trách Luật và Kiểm soát tuân thủ, Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI: Quy mô thị trường vốn Việt Nam hiện mới tương đương khoảng 15–17% GDP, trong đó thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 6–7% GDP. Quy mô này còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.
Những hạn chế hiện nay có nguồn gốc từ quá trình phát triển và điều chỉnh chính sách của thị trường trong giai đoạn 2020–2026.
Nghị định 153 được ban hành năm 2020 với cơ chế tương đối thông thoáng, tạo động lực lớn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Khi đó, thị trường có sự tham gia mạnh của cả nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2020–2022, nhiều nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường khi kiến thức, khả năng đánh giá rủi ro tín dụng và mức độ nhận thức về sản phẩm còn hạn chế. Khi một số tổ chức phát hành lớn gặp khó khăn về thanh khoản, những yếu tố này đã góp phần làm gia tăng mức độ đổ vỡ và khủng hoảng niềm tin.
Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 65 nhằm siết chặt mục đích phát hành, điều kiện phát hành và tiêu chuẩn đối với nhà đầu tư cá nhân. Việc kiểm soát chặt hơn là cần thiết, nhưng cũng khiến thị trường trái phiếu doanh nghiệp rơi vào trạng thái đình trệ trong một thời gian.

Ông Nguyễn Khắc Hải, Giám đốc Khối phụ trách Luật và Kiểm soát tuân thủ, Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI.
 

Khi thị trường gặp khó khăn, Nghị định 08 được ban hành như một giải pháp tình thế để hỗ trợ doanh nghiệp phát hành duy trì hoạt động và xử lý nghĩa vụ với trái chủ.
Theo đó, doanh nghiệp được phép thỏa thuận với nhà đầu tư để thanh toán bằng tài sản khác thay cho tiền, đồng thời có thể kéo dài kỳ hạn trái phiếu tối đa hai năm. Các giải pháp này đã góp phần tháo gỡ áp lực trước mắt, nhưng niềm tin một khi đã mất thì không thể khôi phục chỉ trong một hoặc hai năm.
Đến nay, Nghị định 200 đã kế thừa kinh nghiệm từ các giai đoạn trước, từng bước cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát rủi ro và tạo điều kiện cho thị trường phát triển.
Một điểm đáng chú ý là doanh nghiệp phát hành phải sử dụng vốn đúng phương án đã công bố. Trong thời gian chưa giải ngân hoặc chưa lựa chọn được dự án phù hợp, phần vốn tạm thời nhàn rỗi có thể được gửi ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng chỉ tiền gửi. Quy định này tạo thêm sự linh hoạt trong quản lý dòng tiền nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát mục đích sử dụng vốn.
Đối với nhà đầu tư, phạm vi nhà đầu tư chuyên nghiệp được mở rộng theo Luật Chứng khoán 2024. Tổ chức và cá nhân nước ngoài được xác định là nhà đầu tư chuyên nghiệp, qua đó thuận lợi hơn khi tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.
Nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp vẫn có thể mua trái phiếu riêng lẻ nhưng phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ hơn. Trái phiếu phải được xếp hạng tín nhiệm, có tài sản bảo đảm đủ giá trị để bảo đảm cả nghĩa vụ gốc và lãi trong suốt thời gian tồn tại. Doanh nghiệp phát hành cũng không được sử dụng chính cổ phần hoặc cổ phiếu của mình làm tài sản bảo đảm.
Các quy định này vừa tăng mức độ bảo vệ nhà đầu tư cá nhân, vừa buộc doanh nghiệp phát hành phải nâng cao tính minh bạch và chất lượng tín dụng.
Việt Nam hiện đã có thêm các tổ chức xếp hạng tín nhiệm tham gia thị trường. Doanh nghiệp cũng dần quen hơn với việc xếp hạng không chỉ đối với tổ chức phát hành mà còn với từng lô trái phiếu. Đây là cơ sở quan trọng để nhà đầu tư đánh giá rủi ro và từng bước quay trở lại thị trường.
Một điểm tiến bộ khác là trách nhiệm của từng chủ thể trong quá trình phát hành đã được quy định rõ hơn, từ lập, xác nhận và phê duyệt hồ sơ đến tư vấn phát hành. Sai ở khâu nào thì chủ thể phụ trách khâu đó phải chịu trách nhiệm.
Khi khung pháp lý đã dần hoàn thiện, vấn đề còn lại nằm ở khâu thực thi. Doanh nghiệp phải huy động vốn cho các dự án có hiệu quả, sử dụng vốn đúng mục đích và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin. Khi dự án được triển khai đúng cam kết, tạo dòng tiền và bảo đảm khả năng hoàn trả gốc, lãi, niềm tin của nhà đầu tư mới có thể được khôi phục bền vững.
Bên cạnh đó, công tác truyền thông chính sách cần được thực hiện tốt hơn, từ cơ quan xây dựng pháp luật đến các tổ chức trung gian như công ty chứng khoán và tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Nhà đầu tư tổ chức và cá nhân phải được cung cấp đầy đủ thông tin để hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và rủi ro của từng sản phẩm.
Nếu khung pháp lý mới được thực thi nghiêm túc, minh bạch và đồng bộ, thị trường trái phiếu doanh nghiệp hoàn toàn có cơ sở phục hồi và trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn bền vững cho nền kinh tế.
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Xin cảm ơn những chia sẻ của ông Nguyễn Khắc Hải. Tiếp tục mạch thảo luận về các giải pháp phục hồi và phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, Ban Tổ chức xin mời bà Nguyễn Ngọc Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán DNSE, trao đổi thêm?
Bà Nguyễn Ngọc Linh, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán DNSE: Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã trải qua một giai đoạn đóng băng kéo dài, trong khi nhu cầu đầu tư của cả nhà đầu tư tổ chức và cá nhân vẫn hiện hữu.
Nhiều nhà đầu tư mong muốn phân bổ vốn vào trái phiếu doanh nghiệp nhưng không có đủ sản phẩm phù hợp để giải ngân. Nói cách khác, thị trường hiện không thiếu nhu cầu mà đang thiếu nguồn cung.
Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng những thay đổi về khung pháp lý sẽ góp phần khơi thông hoạt động phát hành, giải quyết điểm nghẽn về nguồn cung và tạo điều kiện để dòng vốn được lưu thông hiệu quả hơn.
Ở một góc độ khác, nhiều doanh nghiệp và cá nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn chính thức. Những doanh nghiệp đủ điều kiện có thể vay ngân hàng, nhưng một bộ phận khác lại phải tìm kiếm các kênh vốn thay thế.

Trên thị trường chứng khoán, dù chỉ số đã trở lại vùng điểm tương đương năm trước và tiệm cận mức thấp của hai năm gần đây, dư nợ cho vay ký quỹ vẫn duy trì ở mức cao, thậm chí tiếp tục tăng.
Hiện tượng này không chỉ phản ánh việc nhà đầu tư cá nhân đang mắc kẹt trong các khoản vay margin, mà còn cho thấy sự thay đổi trong cấu trúc nhu cầu vốn.
Nhiều doanh nghiệp đang tìm đến công ty chứng khoán như một kênh bổ sung vốn. Khi tài sản chứng khoán chưa đủ điều kiện hoặc chưa được ngân hàng chấp nhận làm tài sản bảo đảm, doanh nghiệp có xu hướng sử dụng các giải pháp tài chính từ công ty chứng khoán.
Đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến dư nợ margin tiếp tục tăng dù diễn biến thị trường không thuận lợi. Vì vậy, cần quan tâm nhiều hơn đến nhóm doanh nghiệp chưa thể tiếp cận đúng nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu các mô hình sandbox có khả năng kết nối giữa thị trường tín dụng và thị trường vốn, thay vì phát triển từng lĩnh vực một cách tách biệt. Trong dân vẫn còn một lượng vốn nhàn rỗi lớn, trong khi tín dụng phi chính thức tiếp tục phát triển. Điều này cho thấy nhu cầu vay và đầu tư là có thật, nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ bằng các sản phẩm tài chính chính thức, minh bạch và được giám sát.
Một hướng có thể nghiên cứu là mô hình kết hợp nền tảng cho vay ngang hàng với các dự án đầu tư hoặc dự án công, dưới sự giám sát của cơ quan quản lý và với cơ chế lãi suất đủ hấp dẫn để thu hút dòng vốn. Điều quan trọng là phải có cơ chế điều phối để nơi nào có nhu cầu vốn thực sự thì có sản phẩm phù hợp, qua đó kết nối hiệu quả giữa bên có vốn và bên cần vốn.
Nếu Việt Nam muốn xây dựng một nền kinh tế quy mô lớn với các trụ cột phát triển bền vững, hệ thống phân bổ nguồn lực cũng phải được phát triển đồng bộ. Hiện vẫn tồn tại sự mất cân đối giữa tiềm năng của thị trường vốn và nhu cầu vốn thực tế của nền kinh tế.
Trong khi một số lĩnh vực được ưu tiên tiếp cận nguồn lực, nhiều doanh nghiệp khác vẫn chật vật tìm vốn; nhà đầu tư cũng thiếu các công cụ đầu tư minh bạch nên buộc phải tìm đến những kênh phi chính thức. Vì vậy, thay vì để các nhu cầu này vận hành ngoài khuôn khổ, cần từng bước hợp pháp hóa, chuẩn hóa và minh bạch hóa dưới sự quản lý của Nhà nước.

Muốn thị trường trái phiếu phát triển, phải lớn mạnh các quỹ đầu tư
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Tiếp tục mạch thảo luận về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, Ban Tổ chức muốn lắng nghe thêm góc nhìn từ chính các doanh nghiệp phát hành – những chủ thể trực tiếp huy động và sử dụng nguồn vốn này. Trước hết, xin mời ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Khối Chiến lược và Đầu tư, Tập đoàn Hasco Holdings, chia sẻ ý kiến. Từ thực tiễn của doanh nghiệp, đâu là những khó khăn lớn nhất khi phát hành trái phiếu hiện nay? Theo ông, cần điều chỉnh những gì về điều kiện phát hành, chi phí tuân thủ, xếp hạng tín nhiệm và cơ chế tiếp cận nhà đầu tư để thị trường vừa bảo đảm an toàn, minh bạch, vừa không làm mất đi khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp có dự án và nhu cầu vốn thực chất?
Ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Khối Chiến lược và Đầu tư, Tập đoàn Hasco Holdings: Việt Nam cần từng bước xây dựng thị trường vốn đa tầng, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Thị trường vốn phải giúp nền kinh tế tiếp cận được các nguồn vốn dài hạn, có chất lượng, đồng thời vận hành theo kỷ luật để bảo đảm phát triển lành mạnh và bền vững.
Đối với thị trường trái phiếu, Việt Nam mới bước qua giai đoạn khó khăn nhất sau những biến động vừa qua. Quy mô thị trường hiện vẫn thấp hơn đáng kể so với tiềm năng và nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Thông thường, quy mô thị trường trái phiếu có thể đạt khoảng 45–50% GDP, trong khi tại Việt Nam hiện mới ở mức khoảng 30% GDP. Riêng thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới tương đương khoảng 10% GDP.
Điều này cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn. Trong thời gian tới, Việt Nam cần thúc đẩy đồng thời thị trường trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu Chính phủ, hướng tới mục tiêu đưa tổng quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 60% GDP vào năm 2030.
Để đạt được mục tiêu này, trước hết cần tạo điều kiện để doanh nghiệp phát hành trái phiếu và tiếp cận thị trường vốn thuận lợi hơn. Các quy định phải minh bạch, dễ thực hiện nhưng vẫn bảo đảm chất lượng tổ chức phát hành và khả năng bảo vệ nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, một yếu tố đặc biệt quan trọng là phát triển các công ty quản lý quỹ và hệ thống quỹ đầu tư, nhất là quỹ mở, quỹ trái phiếu và các quỹ đầu tư đại chúng.

Ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Khối Chiến lược và Đầu tư, Tập đoàn Hasco Holdings

Mở room ngoại là một trong những điều kiện trọng yếu để nâng hạng thị trường
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Do thời gian không còn nhiều, Ban Tổ chức xin dành hai câu hỏi cho ông Vũ Chí Dũng, Trưởng ban Pháp chế – Đối ngoại, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Thứ nhất, xin ông cập nhật tiến độ thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, những công việc trọng tâm đang được triển khai và các điều kiện còn phải tiếp tục hoàn thiện. Thứ hai, từ góc độ cơ quan quản lý, ông đánh giá như thế nào về những kiến nghị vừa được đại diện các công ty chứng khoán, doanh nghiệp phát hành và thành viên thị trường nêu ra? Trong số đó, đâu là những đề xuất có thể sớm được nghiên cứu, triển khai nhằm phát triển đồng bộ thị trường cổ phiếu, trái phiếu và hệ thống nhà đầu tư tổ chức?
Ông Vũ Chí Dũng, Trưởng ban Pháp chế – Đối ngoại, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Những vấn đề liên quan đến tỷ lệ sở hữu nước ngoài đều đã được đặt trong Chiến lược nâng hạng thị trường chứng khoán.
Một trong những nội dung quan trọng đang được triển khai là rà soát, xác định lại danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Đến nay, Bộ Tài chính đã lấy ý kiến các bộ, ngành và nhận được phản hồi của 9 trong tổng số 12 cơ quan được xin ý kiến. Mục tiêu là mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại những lĩnh vực không thuộc diện cần hạn chế.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đang nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 155/2020/NĐ-CP. Hiện nghị định có quy định liên quan đến 43 ngành, nghề mà nếu pháp luật chuyên ngành không xác định cụ thể tỷ lệ sở hữu nước ngoài thì có thể phát sinh vướng mắc trong quá trình áp dụng.
Hướng sửa đổi dự kiến là nếu pháp luật không quy định giới hạn thì nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu ở mức tối đa. Qua đó, room ngoại trên thị trường chứng khoán sẽ được mở rộng hơn.
Đây cũng là một trong những tiêu chí được MSCI đặc biệt quan tâm trong quá trình xem xét nâng hạng thị trường Việt Nam.
Về xếp hạng tín nhiệm, một nội dung quan trọng khác trong chiến lược là nâng cao tín nhiệm quốc gia. Khi mức tín nhiệm quốc gia được cải thiện, doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi, qua đó giảm chi phí huy động vốn.
S&P Global Ratings đã có nhiều cuộc trao đổi với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và được cung cấp thông tin về các chính sách mới, cũng như những quy định đang được sửa đổi để thu hút dòng vốn nước ngoài vào thị trường vốn Việt Nam.
S&P đồng thời tham gia Nhóm tư vấn phát triển thị trường vốn, cùng nhiều tổ chức tài chính và quỹ đầu tư quốc tế như FTSE Russell và MSCI.
Mục tiêu của quá trình trao đổi không chỉ là cải thiện tín nhiệm quốc gia mà còn góp phần nâng mức tín nhiệm của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp huy động vốn với chi phí thấp hơn.
Liên quan đến đổi mới sáng tạo, cơ quan chức năng đang xây dựng nghị định về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi cũng bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với thị trường chứng khoán.
Theo hướng này, luật sẽ giao Chính phủ quy định chi tiết để có thể phản ứng linh hoạt trước các sản phẩm và mô hình mới, thay vì quy định cứng trong luật.

Ông Vũ Chí Dũng, Trưởng ban Pháp chế – Đối ngoại, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

Dự kiến, dự án Luật Chứng khoán sửa đổi sẽ được trình Chính phủ trong tháng 8, trình Quốc hội trong tháng 9 và xem xét thông qua tại kỳ họp tháng 10.
Một điểm mới là dự thảo luật sẽ được chuẩn bị đồng thời với các nghị định hướng dẫn, nhằm rút ngắn thời gian đưa chính sách vào thực tiễn.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bên cạnh các giải pháp hỗ trợ hiện hành, Bộ Tài chính đang nghiên cứu mô hình quỹ bảo lãnh thanh toán trái phiếu, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Nội dung này đã được đề cập trong dự thảo đầu tiên của Luật Chứng khoán sửa đổi.
Cơ quan quản lý cũng đã rà soát các nghị quyết của Trung ương và Chính phủ, đặc biệt là những chủ trương mới, để thể chế hóa trong dự thảo luật và các văn bản hướng dẫn, bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Về mục tiêu nâng hạng, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang triển khai đồng thời các tiêu chí của MSCI và FTSE Russell. Về cơ bản, các tiêu chí của hai tổ chức có nhiều điểm tương đồng.
Trong đó, mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài là một yêu cầu quan trọng. Bên cạnh đó, thông tin về tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng của doanh nghiệp niêm yết phải được công bố minh bạch và quy mô free float cần được cải thiện.
Một yêu cầu khác là phát triển thị trường ngoại hối để hỗ trợ tốt hơn cho thị trường chứng khoán, nhất là xây dựng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho nhà đầu tư nước ngoài.
Đây là điều kiện quan trọng bởi nhà đầu tư nước ngoài phải chuyển đổi ngoại tệ sang đồng Việt Nam trước khi thực hiện đầu tư.
Đối với doanh nghiệp FDI, theo quy định hiện hành, doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến hoạt động IPO, niêm yết và huy động vốn của nhóm doanh nghiệp này.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang phối hợp với các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp FDI để cụ thể hóa quy định từ nghị định, thông tư đến hướng dẫn thực hiện. Một số nội dung như room ngoại và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ IPO xuống còn khoảng 30 ngày đã được đưa vào dự thảo luật.
Vấn đề tiếp theo là hoàn thiện hướng dẫn để bảo đảm khả năng thực thi. Dự thảo luật cũng tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và thời gian xử lý hồ sơ, qua đó tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn.
Từ kinh nghiệm của Indonesia và quá trình làm việc với MSCI, cơ quan quản lý nhận thấy tổ chức này đang xem xét bổ sung một số tiêu chí mới, trong đó có yêu cầu tỷ lệ free float phải được công khai, minh bạch và đủ lớn, tránh tình trạng cổ phiếu quá cô đặc.
Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng các bộ chỉ số và phát triển các quỹ đầu tư theo chỉ số. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng đang nghiên cứu các sản phẩm như chứng chỉ lưu ký để tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam mà không làm phát sinh thêm vướng mắc về giới hạn sở hữu.
Nhìn chung, các kiến nghị của doanh nghiệp về mở rộng room ngoại, phát triển thị trường trái phiếu, đa dạng hóa sản phẩm tài chính, thúc đẩy tài chính xanh, doanh nghiệp xanh và ESG đều đã được đưa vào chiến lược phát triển thị trường vốn.
Song song với đó, các quy định về quản trị công ty tiếp tục được hoàn thiện nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng hàng hóa trên thị trường. Bộ nguyên tắc quản trị công ty đã được cập nhật theo các tiêu chuẩn mới của OECD. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tổ chức thực thi hiệu quả các chuẩn mực này trong thực tế.

Ông Phạm Đức Sơn: Thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo và Tạp chí Nhà đầu tư, tôi trân trọng cảm ơn các vị khách quý, các chuyên gia, đại biểu và đại diện doanh nghiệp đã dành thời gian tham dự, thẳng thắn trao đổi và đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, thiết thực nhằm thúc đẩy thị trường vốn Việt Nam phát triển đồng bộ, lành mạnh và bền vững. Những ý kiến tại Hội thảo không chỉ gợi mở nhiều giải pháp cụ thể, mà còn truyền đi thông điệp về niềm tin, trách nhiệm và quyết tâm chung tay phát triển thị trường vốn, qua đó góp phần củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Ngay sau Hội thảo, Ban Tổ chức sẽ khẩn trương tổng hợp đầy đủ các ý kiến phát biểu trực tiếp cùng các tham luận đã gửi trước đó, báo cáo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, làm cơ sở xây dựng báo cáo kiến nghị gửi Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có liên quan. Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn sự hiện diện và những đóng góp quý báu của các quý vị đại biểu. Kính chúc quý vị sức khỏe, thành công và hẹn gặp lại trong những chương trình tiếp theo của Tạp chí Nhà đầu tư.
 

 

 
 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
 
 
 

 

 
 
 

chevron_left
chevron_right